Bệnh Lem Lép Hạt Lúa và Cách phòng trừ hiệu quả nhất


Lem lép hạt là bệnh phổ biến trên lúa gia tăng rất nhanh về diện tích lẫn mức độ gây hại. Nếu không có phương pháp phòng ngừa từ rất sớm sẽ làm ảnh hưởng lớn đến toàn bộ năng suất vụ mùa. Hiện nay chưa có giống lúa này chống chịu được loại bệnh này.

Bệnh lem lép hạt lúa là gì

Bệnh lem lép hạt

Bệnh lem lép hạt lúa là tên gọi chung cho hiện tượng hạt lúa bị lửng hoặc lép, bên trong rất ít gạo hoặc lép thì bên trong hoàn toàn không có gạo. Khi hạt lúa bị lửng và lép, có thể kèm theo triệu chứng đổi màu vỏ hạt lúa và hạt gạo tùy theo tác nhân gây ra.

Phân loại bệnh lem lép

Các loại bệnh lem lép hạt

Lép trắng là hiện tượng mà hạt lép màu trắng khi mới trỗ ra. Nguyên nhân chính của lép trắng là do không được hình thành tế bào mẹ hạt phấn, vỏ trấu không được silic hóa và không hình thành chất diệp lục. Nên khi lúa trỗ thấy các hạt lép màu trắng, thực tế là hoa đó không được hình thành đầy đủ.

Lép xanh là hiện tượng do 2 nguyên nhân, trỗ ra đã lép sẵn do sự cố trong quá trình hoàn thành hạt phấn, tuy vỏ trấu đã hình thành chất diệp lục, nhưng không hoàn thiện hoa. Nên khi trỗ ra vẫn thấy màu xanh. Hoặc gặp điều kiện bất lợi hoa không thụ phấn, thụ tinh được và hạt không được hình thành.

Lép đen là hiện tượng mà hạt lép có màu đen, nâu đen, do các tác nhân bên ngoài như vi khuẩn, nấm bệnh và cả nhện gié. Bệnh đen lép hạt có thể do nhiều loại nấm bệnh, vi khuẩn khác nhau gây nên.

Lem lép hạt lúa gây thiệt hại rất lớn về năng suất, có thể lên tới trên 70% năng suất. Thực tế 1 khóm lúa có từ 5 – 7 dảnh, thậm chí 10 – 15 dảnh hoặc cao hơn. Mỗi bông có từ 200 – 350 hạt, trọng lượng trung bình của 1000 hạt các giống lúa thuần > 20 gram, lúa lai > 25 gram.

Nếu mỗi khóm lúa có 7 bông, mỗi bông lúa có 200 hạt chắc thì năng suất lúa lai có thể đạt hơn 14 tấn/ha, lúa thuần có thể đạt hơn 11 tấn/ha. Song trên thực tế chỉ đạt tối đa khoảng 2/3 năng suất đó.

Tác nhân gây bệnh lem lép hạt

Theo các kết quả điều tra nghiên cứu của Trung Tâm Bảo Vệ Thực Vật Phía Nam (1997), Viện Bảo Vệ Thực Vật (1995), Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long (2000) kết hợp với nhiều tài liệu ở nước ngoài có thể xác định ra nhiều nguyên nhân.

Cách trị nhện gié

Do nhện gié: Thường sống trong các bẹ lá lúa khi mật số cao chúng có thể bò lên trên bông lúa chích hút các gié lúa đang phát triển, những bông lúa bị hại thường mọc thẳng đứng và phần lớn số hạt đều bị lép.

Do vi khuẩn Pseudomonas glumae (tên mới Bukhoderia glumae): Làm thối đen hạt hoặc gây vết bệnh trên vỏ hạt.

Do nấm là chủ yếu: Bipolaris oryzae, Alternaria padwickii, Fusarium sp, Phoma sp, Curvularia lunata, Microdochium oryzae, Pyricularia oryzae, Sarocladium oryzae, Septoria sp, Ustilagonoides virens, Tilletia barclayana.

Sự phát sinh và tác hại của bệnh lem lép

Thời kỳ cây lúa dễ mẫn cảm với bệnh là từ giai đoạn trổ bông đến chín sữa và rơi vào những tháng có nhiệt độ thấp với độ ẩm không khí cao, lượng mưa lớn và số ngày mưa nhiều.

Lem lép hạt làm ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất lúa, đồng thời tác hại vào vụ sau.

Biện pháp thủ công phòng trừ bệnh lem lép hạt

Về giống: Gieo cấy hạt giống ít mang mầm bệnh hoặc dùng giống lúa có xác nhận tuyệt đối, không lấy giống ở chân ruộng vụ trước bị lem lép nặng để gieo sạ lại. Trước khi ngâm, ủ, phơi khô, rê sạch để loại bỏ những hạt lép lửng, biến màu.

Thời vụ: Gieo cấy lúa vào thời kỳ phù hợp sao cho khi lúa trổ không trùng với thời kỳ mưa gió nhều, khi lúa có đòng và trổ không để ruộng bị khô hạn.

Phân bón: Bón phân đầy đủ và cân đối tuỳ theo giống, điều kiện đất đai và mùa vụ của từng vùng. Có thể áp dụng phương pháp bón phân theo màu lá lúa dựa vào bảng so màu hoặc bón phân đón đòng theo kỹ thuật “Không ngày, Không số”.

Sâu bệnh: Phòng trừ tốt các loại sâu bệnh phát sinh vào giai đoạn đòng và trổ là sẽ giảm bệnh lem lép hạt.

Cỏ dại: Cỏ dại là nơi ký sinh của nhiều nấm gây bệnh trên lá và hạt lúa. Cần phòng trừ cỏ trong ruộng cũng như trên bờ ruộng.

Bệnh lem lép hạt lúa

Sử dụng biện pháp hóa học để phòng ngừa lem lép hạt

Xử lý hạt giống trước khi gieo sạ:

Pha hoạt chất Carben dazim (Vicarben 50HP), Benomyl (Viben 50BTN) nồng độ 3 ‰ cho hạt lúa giống đã phơi khô rê sạch vào ngâm 24 – 36 giờ vớt ra rửa sạch bằng nước trong sau đó ủ bình thường.

Xử lý hạt giống là cách không những giúp phòng ngừa ngoài bệnh lem lép hạt, mà còn các bệnh khác như đạo ôn lá, lúa von, vàng lá chín sớm,…

Chọn lựa thuốc để phun phòng:

Nên chọn thuốc trừ bệnh phổ rộng để phun như Vixazol 275SC (hoạt chất Carbendazim + Hexaconazole), Vicarben 50HP (hoạt chất Carbendazim), Vivil 5SC (hoạt chất Hexaconazole), Viroval 50BTN (hoạt chất Iprodione), Workup 9SL (hoạt chất Metconazole), Vitin-New 250EC (hoạt chất Propiconazole). Độc kĩ bao bì để phun đúng liều lượng.

Thời điểm phun là rất quan trọng: Nên phun phòng sớm vì để bệnh xâm nhập vào hạt lúa rồi mới phun thì không hiệu quả. Phun hai lần vào thời kỳ lúa bắt đầu trổ và trổ đều giúp hạn chế các loại nấm phát triển trên vỏ hạt lúa.

Chú ý nếu phun thuốc muộn khi lúa vào mẩy hoặc chín sữa thì hiệu lực thuốc không cao. Phun vào giai đoạn đòng trổ này còn giúp phòng trừ được các bệnh khác như đốm vằn, đạo ôn cổ bông, vàng lá chín sớm, thối bẹ lá đòng.

Có 3 yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa giai đoạn đòng và trỗ: Dảnh vô hiệu, lem lép hạt, bộ lá đòng. Cả 3 yếu tố đều dẫn tới lép và lửng hạt.

Hạn chế tối đa dảnh vô hiệu: Dảnh vô hiệu là các dảnh không cho bông hoặc cho bông nhưng trỗ sau và chín muộn không cho năng suất. Được sinh ra do điều tiết nước và bón phân sai khoa học.

Trong điều kiện ruộng có nước, nếu bón nhiều phân lân và đạm giai đoạn cuối đẻ nhánh, thúc đòng quá sớm, sẽ kích thích bộ rễ và lá phát triển. Bón đạm làm bộ lá xanh non, chồi non là nơi tổng hợp auxin, là chất kích thích ra rễ.

Mặt khác lân có khả năng kích thích rễ phát triển, rễ là nơi tổng hợp cytokinin, là chất làm trẻ hóa tế bào. Vì vậy khiến cây lúa đẻ thêm các dảnh vô hiệu.

Ngoài ra có thể hạn chế số dảnh bằng cách cắt nước cuối đẻ nhánh đến lúc lúa phân hóa đòng nếu điều kiện thủy lợi cho phép.

Hạn chế lem lép hạt: Dảnh vô hiệu nhiều, bộ lá lúa xanh non ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp Giberelin (GA) (chất kích thích phân hóa mầm hoa), nếu thiếu nó có thể dẫn tới lép xanh và lép trắng. Vì GA giai đoạn này được tổng hợp chủ yếu là từ các lá bánh tẻ (bộ lá đòng).

Do đó cần bón đón đòng và điều tiết lượng nước hợp lý. Thời gian bón đón đòng tốt nhất là tại bước thứ 2 của quá trình phân hóa đòng (hình thành gié cấp 1). Tuy nhiên người nông dân phân biệt được đâu là bước thứ 2.

Có một kinh nghiệm thực tiễn giúp nhận diện như sau: Khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng, bộ lá chuyển vàng sáng, tròn mình. Bước 2 chính là lúc mắt lá cờ (lá cạnh bông sau này) trùng với mắt lá kế bên hoặc bóc dảnh lúa ra và thấy cây lúa có thân thật, bắt đầu có phần lông trắng trên đỉnh thân.

Nếu cần phòng trừ các bệnh như thối thân, vàng lá, khô vằn thì nên chọn các thuốc thuộc nhóm Triazole như Nevo 330EC, Anvil 5SC… vì ngoài phòng trừ bệnh, còn giúp ức chế sinh trưởng ngọn (không dùng nhóm này cho cây họ bầu bí), giúp kìm hãm tổng hợp auxin.

Bảo vệ bộ lá đòng: Bộ lá đòng có 4 lá trên cùng quyết định năng suất lúa. Khi cây lúa phân hóa đòng, bộ lá đòng được cố định, thời điểm này cây lúa không thể mọc thêm được lá nào nữa.

Bộ lá đòng cần phải khỏe, đứng và sạch bệnh hiệu suất quang hợp tăng cao và hạn chế tối đa việc tích lũy nguồn bệnh và lây lan sang hạt gây nên lép đen và lép xanh.

Phòng trừ, ngăn chặn nguồn bệnh tích lũy gây ra lép hạt và bảo vệ bộ lá đòng bằng các loại thuốc như Anvil 5SC (0,8 lít/ha) giai đoạn cuối đẻ nhánh, Nevo 330EC (0,3 – 0,4 lít/ha) giai đoạn từ làm đòng – trước trỗ, sau trỗ 1 tuần.

Nếu có áp lực đạo ôn, trước lúc trỗ có thể dùng Amistar Top 325SC (0,4 lít/ha) để phòng đạo ôn cổ bông, cả vàng lá, khô vằn, lem lép hạt.

Bài Cùng Chuyên Mục Sâu Bệnh